Nói đến mùa xuân trong thơ Mới, không thể không nhắc đến những áng thơ xuân của Nguyễn Bính. Tuy nhiên, có một thi phẩm rất tiêu biểu cho phong cách của “thi sĩ chân quê” nhưng còn được ít người biết đến. Đó là bài “Sao chẳng về đây”, được ông sáng tác trong thời gian lang bạt ở Nam Bộ và đăng lần đầu trên Dân báo số xuân Ất Dậu. “Sao chẳng về đây” bộc lộ nỗi buồn tha hương khi xuân đến và sự lạc lõng của “thi sĩ chân quê” giữa chốn phồn hoa:

“Xuân đã sang rồi, em có hay

Tình xuân chan chứa, ý xuân đầy.

Kinh kỳ bụi quá, xuân không đến

Sao chẳng về đây, chẳng ở đây.”

Bài thơ là lời tâm sự của chủ thể trữ tình với khách thể “em”. Khách thể “em” có thể là một trong những người tình của Nguyễn Bính, cũng có thể là Nàng Thơ của thi sĩ. Câu thơ chất chứa những tâm sự bâng khuâng, rạo rực của thi nhân trước thời khắc chuyển mùa. Chiếc bánh xe thời gian đã lăn đến vạch ranh giới giữa hai mùa, con người giờ đương đứng trước thềm năm mới. Và từ “sang”, chứ không phải “về” hay “tới”, được chọn lọc thật tinh tế, đã toát lên sự cảm nhận sâu sắc của tác giả về bước chuyển giao rất đỗi thiêng liêng đó. Nguyễn Bính có sự nhạy bén thiên bẩm với cảnh sắc thiên nhiên quê hương xứ sở. Ông đã nắm bắt tài tình thời khắc giao mùa tuyệt đẹp, vốn không dễ nhận ra ở miền nhiệt đới.

Mùa xuân đâu chỉ có những cành cây lấm tấm lộc biếc, với lớp vỏ mong manh cố kìm lại dòng nhựa thơm đang sục sôi tuôn chảy bên dưới, chỉ chờ dịp bất ngờ trổ lên những mầm non để góp chút hương sắc cho phong vị cuộc đời… Mùa xuân còn là suối nguồn cảm hứng bất tận, khơi dòng cho mạch thơ bồi hồi, lai láng như dòng nham thạch cuồn cuộn tìm nơi “phun trào” những lời hay ý đẹp. Lớp “lộ thiên” của câu thơ không phơi bày phong cảnh hữu tình của nước non. Nhưng ta vẫn cảm nhận được sức sống tràn trề, mơn mởn của muôn vật trên Trái Đất ở đâu đấy trong giọng điệu hứng khởi, háo hức của nhà thơ. Cùng đối diện với tiết trời vào xuân, trong khi những xúc cảm của Xuân Diệu mạnh mẽ đầy phấn khích: “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi”, thì những rung cảm trong Nguyễn Bính lại có phần nhẹ nhàng và thanh thoát hơn nhiều: “ý đầy“, “tình chan chứa” nhưng chưa biết lấy phương tiện nào để truyền tải thành ngôn ngữ văn chương. Ngòi bút của Nguyễn Bính tựa như cành cây căng tràn nhựa sống và đương khát khao một nơi thích hợp để tuôn trào. Sự suy ngẫm của ông về hành trình kiếm tìm nguồn cảm hứng hội ngộ cùng Nàng Thơ được dàn trải từ câu thơ tiếp theo:

“Kinh kỳ bụi quá, xuân không đến

Sao chẳng về đây, chẳng ở đây.”

Ở đây, ta thấy có chút mâu thuẫn khi tác giả vừa phấn khởi trước chuyến viếng thăm định kì của mùa xuân thì đã ngao ngán thở dài: “xuân không đến“. Ở đầu khổ thơ, tác giả nói: “Xuân đã sang rồi”, tức mùa xuân phải chạm ngõ khắp nơi. Thế nhưng, trong con mắt của “thi sĩ chân quê”, mùa xuân chẳng ghé qua những chốn phồn hoa đô hội. Hóa ra, xuân chỉ thật sự đến trong trái tim của thi nhân, và trên những con đường làng, ngõ quê mà ông yêu như máu thịt. Xuân không đến nơi “kinh kỳ bụi quá“!… Từ “bụi” được sử dụng thật đắt, vừa gợi tả sự bé nhỏ, tầm thường và phù du của vật chất của cải, vừa là hình ảnh ẩn dụ chỉ cuộc sống xô bồ, ô hợp nơi phố phường. Nguyễn Bính nhận thức được rằng: chốn ganh đua, chen chúc vì lợi danh ấy chính là nơi làm tiều tụy thân xác ta:

“Ở mãi kinh kỳ với bút nghiên,

Đêm đêm quán trọ thức thi đèn.

Xót xa một buổi soi gương cũ

Thấy lệch bao nhiêu mặt chữ điền”

Thế nhưng, thời nào cũng có người từ bỏ “chốn lao xao” để về “nơi vắng vẻ” như Bạch Vân Cư Sĩ thuở nào. Nguyễn Bính cũng vậy, khi cho rằng những chốn phù hoa ô hợp ấy không thể thích hợp để trở thành nơi dừng chân của Nàng Xuân duyên dáng, thanh tao. Tại đây, thi sĩ đã đem đến cho người đọc một góc nhìn mới về mùa xuân. Thông thường, từ “xuân” dùng để chỉ những điều đẹp đẽ và tươi trẻ của con người và đất trời. Nhưng trong bài thơ này, từ “xuân” mang ý nghĩa ẩn dụ, chỉ những giá trị cao đẹp, đích thực trong nhân cách con người. Những điều đó, chỉ có thể đạt được, khi tâm hồn ta có một góc dành cho sự thanh tịnh, và không tồn tại ảo lợi phù phiếm. Rút ra được nhân sinh quan ấy, Nguyễn Bính mới tự vấn mình: vậy có cớ gì để mình không “về đây“, không “ở đây” chứ? Đại từ phiếm định “đây” ắt hẳn không thể chỉ chốn “bụi bặm” rồi. Đó chỉ có thể là nơi: “Có hương, có sắc, có thiên nhiên / Sống vào giản dị, ra tươi sáng / Tìm thấy cho lòng một cảnh tiên“. Nguyễn Bính đã vẽ ra một không gian lí tưởng cho những thi nhân ngâm vịnh đất trời:

Sao chẳng về đây lục tứ thơ

 Hỡi ơi, hồn biển rộng không bờ

Chùm hoa sự nghiệp thơm muôn thuở

Thiên hạ bao nhiêu kẻ đợi chờ“.

Ta nghe như văng vẳng bên tai giọng chàng thi sĩ tha thiết cất tiếng mời Nàng Xuân không chỉ “về“, mà còn “” mãi mãi nơi vườn xuân thanh tao, dân dã. Xuân Diệu đã từng lo sợ Nàng Xuân bay vụt qua chốn địa đàng: “Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua / Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già“. Nhưng ông cũng nói: “Trong tôi, xuân đến đã lâu rồi”. Thực ra, Nàng Xuân luôn ngự trị bất diệt trong lòng các thi sĩ tình yêu, không cần đến một lời mời mọc nào, không cần đến sự quay vòng vĩnh hằng của bánh xe thời gian…

Tôi từng quan niệm rằng, Tết không phải là thời điểm nhàn nhã, tĩnh tại trong tâm hồn. Nhưng sau khi chiêm nghiệm thơ của Nguyễn Bính, tôi đã buộc lòng ngẫm lại cách nhìn nhận của mình về mùa xuân, tuổi xuân… Bây giờ, ở cái tuổi mới lớn đầy ắp mơ mộng, hồn nhiên, tôi vẫn vô tư tận hưởng những cái Tết yêu thương ở gia đình và quê hương bình dị. Nhưng khi tôi trưởng thành và bị cuốn vào vòng xoáy vô tận của cuộc sống bon chen như bất kì người nào khác, thì sự nhìn nhận về cái Tết cổ truyền sẽ ra sao? Khi ấy, liệu tôi có thể gác lại những bận bịu lo toan với công chuyện làm ăn thường nhật, để tìm lại những giây phút ấm áp bên gia đình chăng? Có lẽ, phút ấy, tôi cũng như chàng thi nhân họ Nguyễn vừa thoát khỏi cơn mộng mị: “Phồn hoa thôi hết mộng huy hoàng / Sớm nay sực tỉnh sầu đô thị”. Ta không thể phủ nhận rằng: xu hướng đô thị hóa ngày nay là tất yếu. Tuy nhiên, nếu ai đó trong chúng ta đã đủ mỏi mệt với cảnh ngộ “Chết dần từng nấc, rồi mai mốt / Chết cả mùa xuân, chết cả đời”, thì đã đến lúc ta nên hướng mũi kim chỉ nam trên đường đời về những vùng “chân quê” yên tĩnh. Đó, mới là nơi mà con người có khả năng đạt đến tuyệt đỉnh của sự thanh bạch và thanh cao trong tâm hồn.

Nguyễn Bính không chỉ cảm thụ được vẻ đẹp tuyệt vời của làng quê truyền thống mà còn khai quật được những lớp “trầm tích” giàu ẩn ý sâu xa của đời sống xã hội. Nhà thơ đã cống hiến cho đời một bài học đầy chất nhân văn, một suy ngẫm đượm sắc cao cả. Mai sau, dù cho con người sống đủ đầy đến đâu trong nền văn minh vật chất, chắc hẳn vẫn sẽ tồn tại những thiếu hụt trong tâm hồn mỗi dịp Tết đến, xuân về. Lúc ấy, những bài thơ xuân của Nguyễn Bính vẫn còn đủ sức sưởi ấm lòng người, từ nơi thôn quê đến chốn thị thành…

Phạm Thị Ngọc Hòa

 

Nguyên tác bài thơ

           SAO CHẲNG VỀ ĐÂY

Lối đỏ như son tới xóm Dừa,

Ngang đầu đã điểm hạt mưa thưa,

(Xuân sang xao xuyến lòng tôi quá)

Tôi đã xây tròn sự nghiệp chưa?

 

Ở mãi kinh kỳ với bút nghiên,

Đêm đêm quán trọ thức thi đèn.

Xót xa một buổi soi gương cũ

Thấy lệch bao nhiêu mặt chữ điền

 

Chẳng đợi mà xuân vẫn cứ sang

Phồn hoa thôi hết mộng huy hoàng.

Sớm nay sực tỉnh sầu đô thị

Tôi đã về đây rất vội vàng.

 

Ở đây vô số những trời xanh

Và một con sông chảy rất lành,

Và những tâm hồn nghe rất đẹp

Cùng chung sống dưới mái nhà tranh.

 

Sao chẳng về đây múc nước sông

Tưới cho những luống có hoa trồng?

Xuân sang hoa nụ rồi hoa nở

Phô nhụy vàng hây với cánh nhung.

 

Sao chẳng về đây bắt bướm vàng

Nhốt vào tay áo, đợi xuân sang,

Thả ra cho bướm xem hoa nở

Cánh bướm vờn hoa loạn phấn hương?

 

Sao chẳng về đây có bạn hiền,

Có hương, có sắc, có thiên nhiên

Sống vào giản dị, ra tươi sáng

Tìm thấy cho lòng một cảnh tiên?

 

Sao chẳng về đây lục tứ thơ

Hỡi ơi, hồn biển rộng không bờ

Chùm hoa sự nghiệp thơm muôn thuở

Thiên hạ bao nhiêu kẻ đợi chờ?

 

Sao chẳng về đây, nỡ lạc loài

Giữa nơi thành thị gió mưa phai

Chết dần từng nấc, rồi mai mốt

Chết cả mùa xuân, chết cả đời?

 

Xuân đã sang rồi em có hay

Tình xuân chan chứa, ý xuân đầy

Kinh kỳ bụi quá, xuân không đến

Sao chẳng về đây? Chẳng ở đây?

 

Xóm Dừa, cuối 1944

 

Nguyễn Bính 

(Theo “Nguyễn Bính – thơ và đời” – Hoàng Xuân tuyển chọn – NXB Văn học, 2003)