Trận lũ lụt lớn nhất ở Phú Yên diễn ra năm 1924. Có một bài dân ca ghi lại sự kiện này, tồn tại nhiều dị bản khác nhau. Sau đây là bản dài nhất:
 
Giáp Tý, Khải Định cửu niên
Trời làm bão lụt Phú Yên cơ hàn
Tuy Hòa cho tới Tuy An
Đồng Xuân, Phủ cũ, mấy làng gần sông
Đá Bia ra tới Cù Mông
Dưới biển sóng dậy, trên đồng nước dưng
Nhà cao ngập tới nửa lưng
Nhà thấp đá mái, nước bưng trôi nhà
Mưa dầm suốt bữa hăm ba
Sáng ngày hăm bốn nước đà vô sân
Đầu hôm sấm chớp vang rân
Gió nam thổi kiệt, ước chừng canh ba
Còn đang dọn dẹp trong nhà
Ầm ầm gió chướng phá mà vách phên
Canh tư trăng hé hừng lên
Ba đào chuyển động tường nền rã tan
Chùa, đình, miễu lẫm các làng
Long đình hương án, lọng tàng, trượng âm
Sắc thần, phổ ý nước ngâm
Nhà sàn, kèo cột, rui mầm còn chi
Quần áo bỏ vào va - ly
Rương xe, tráp trắc, quế kỳ cùng trôi
Nhà ngói sổ nóc lên ngồi
Sẩy tay rớt xuống sóng nhồi lộn rơm
Tuổi xanh má phấn da thơm
Tóc dài bết đất, dính chôm dính chà
Hài nhi lên bảy lên ba
Gỗ đằng, nưởc phủ sập nhà, vách chôn
Hòa Đồng chết hết bảy thôn
Người nào còn sống chạy dồn lên non
Đàn bà chết đứng bồng con
Trai tơ mất vợ, gái non mất chồng
Của tiền sạch bách, tay không
Gia tài khánh kiệt ruộng đồng cách xa
Hai lăm trời mới rạng ra
Xốc nồm, gió chướng mưa sa trắng trời
Trẻ, già lấy nón làm tơi
Kiếm chốn gò mả làm nơi cất chòi
Trèo lên trên động ngó coi
Cuộn giòng nước xoáy sóng nhồi lao xao
Cũi heo, chồng ngựa, phên rào
Rương xe, phảng mã lộn nhào lăn chiêng
Giàu than mất gạo mất tiền
Lúa ướt, nhà dột, không yên chỗ nằm
Cả tỉnh chết hết mấy trăm
Ghe bầu, thuyền, lưới giạt nằm trên khô
Trong chùa, thầy niệm nam - mô
Ngoài sân Phật ngã, mõ đồ linh đinh
Cù phong một trận tan tành
Heo chương da thúi, bò sình bụng to
Chó mèo, gà vịt, trâu bò
Dành chân trôi lấp đầy gò thúi hôi
Xế qua nước mới dực hồi
Dân nằm duới nước, quan ngồi sao an
Phú Lạc, Đa Ngư, Phước Giang
Lạc Nông, Thạch Tuấn, dưới làng Mỹ Khê
Nhà trôi ngườl chết thảm thê
Thọ Lâm, Phú Hiệp thuộc về Hòa Đa
Phú Lễ sông cạn chảy qua
Phú Lâm, Phú Nhuận cùng là Thạch Lâm
Uất Lâm, Đông Mỹ, Phước Nông
Rừng ngang, hạ bạc thủy xâm chín làng
Làm tờ thiệt hại trình quan
Sổ mục mấy làng, già trẻ khai ra
"Sức" về tìm kiếm thây ma
Bảo trong thân thích bó mà chôn sơ
Người nào chết tấp bụi bờ
Cuốc đất mà lấp đừng chờ quách quan
Chết trôi không chiếu không màn
Không thầy cúng vía, không quang truy hồn
Tỉnh tòa trường học, nha môn
Ngói bay, gương bể kiểng bồn ngã lăn
Trời sao bẻ lá không ngằn
Cây gãy cành dập, nhánh văng chật đàng
Khâm sứ từ tòa Nha Trang
Phú sức bầu đoàn xe chở gạo ra
Tháng chín bão hại người ta
Còn thêm trận lụt hăm ba tháng mười
Trời làm thiên hạ đều hư
Gia cang, thổ mộ, đền từ chẳng yên
Bàn dân chí di quan viên
Lầu cao, tòa sảnh trính xiêng phơi bày
Nước lớn hơn ba thước tây
Hạ bạn vợ nói chồng nghe
Ghé sõng vào hè chở mẹ con tui
Phận nghèo không đất cắm dùi
Cửa nhà trôi hết, biết chui ngõ nào?
Cõng con xẻ trổ băng rào
Bò trâu dong đuổi nông cao mà nằm
Gió to, trời tối, mưa dầm
Đuốc đèn kêu hú kiếm tầm vỏ bao
Giàu thời lẫm lớn bồ cao
Vách sập, lúa đổ hư hao bộn bề
Nam Bình, Thạch Chẩm, Phú Khê
Bàn Nham, Bàn Thạch, làng kề Phước Long
Thạch Lương, Lò Gạch, Tân Lâm
Gò Tây, Soi Đại, Hiệp Đồng, Mỹ Long
Gỗ trôi xuống cửa Đà Nông
Phước Giang, Đại Mộc còn trông nỗi gì?
Chữ rằng âm thịnh dương suy
Thiên cơn mạc trắc thùy truy khó dầu
Đà Rằng, Đông Trạch, Phú Câu
Năng Tịnh, Ngọc Lãng, kho dầu ngói teo
Tàu bè Vĩnh Thái đứt neo
Mỹ Lợi, ghe bẹp, đứt lèo, gãy be
Ninh Tịnh, Nhạn Tháp núi che
Ô Sét, Lò Rượu tư bề ngổn ngang
Đông Bình, Đông Phước, Phú Vang
An Đức, An Hải, An Sang, Xuân Đài
Cau, dừa gãy gục nằm dài
Từ Nham ghe cộ sóng tai vô gành
Ghe câu, ghe lưới, ghe mành
Rớ, giã đứt nhợ tanh bành dẹp ghê
Bứt vành, gãy cột lột mê
Chợ Đèo cốm rã, Thạch Khê ướt đàng
Mạnh Đông, Nhút Mộc, Thập hàng
Sơn Hòa lúa bắp mục vàng mốc meo
Củng Sơn, Thành Hội, Hoa Chiêu
Đồng Cam, đất đỏ hư nhiều sắn khoai
Phủ trong cho chí huyện ngoài
Khắp bốn phủ huyện thủy tai hại đều
Hòn ông núi lở cây xiêu
Gỗ to lấp dưới rác rều bè trôi
Nhựt cùng, Đồng Cọ, Đồng Lầu
Bãi sông, núi lá cát bồi soi dâu
Lúa co mới uốn cần câu
Dưới sóng trên gió rụi màu nám đen
Tưởng Ià trời đất nhóm nhen
Năm đại hồng thủy cũng phen lụt này
Hô nhâm, hô quý, đông tây
Cho dân biết trước ba ngày dẫn lương
Tư tờ về tận thôn hương
Bảo rằng Nhà nước cũng thương dân bần
Tinh tòa văn võ đại thần
Đồng nghị chẩn bần cứu trợ lê dân
Nhứt thiết phải tính cho cân
Bò trâu mất hết, hai ngân một phần
Đàn bà góa bụa cô thân
Một xuất chẩn bần tính trọn mười xu
Người mù, qủa phụ, vong phu
Đôi mắt lòa mù : phát một giác hai
Giấy tờ ghi đúng biên lai
Công bằng cấp phát, đừng ai tư tình
Đội Trinh, Quản Cuộc, Lệ Tinh
Sang năm Ất Sửu đệ trình lên trên
Đông Tây, tả hữu xếp biên
Ghi lại một bức văn truyền về sau
Hỏi người cầm bút ở đâu
Quế Chi, Phú Lạc, phường câu quê nhà
Bỉ cực rồi lại Thái hòa
Cù phong lục thủy vậy mà khắc ghi
 
Quế Chi tức Chức Phương
Thôn Phú Lạc